Phan Chu Trinh
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một nhà chí sĩ, nhà cách mạng, nhà tư tưởng và nhà văn hóa Việt Nam thời cận đại: "Phan Chu Trinh" là tên một nhân vật lịch sử quan trọng, người đề xướng đường lối cứu nước bằng con đường ôn hòa, dựa trên việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
- Biểu tượng của tư tưởng Duy Tân và đấu tranh bất bạo động: Tên ông gắn liền với phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX và tư tưởng dân chủ, dân quyền.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Phan Chu Trinh là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu đầu thế kỷ XX.
- Tư tưởng của Phan Chu Trinh về dân chủ, dân trí, dân sinh vẫn còn nguyên giá trị.
- Chúng ta học tập tấm gương yêu nước và thanh liêm của cụ Phan Chu Trinh.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tư tưởng Phan Chu Trinh": chỉ hệ thống quan điểm chính trị - xã hội của ông, tập trung vào việc nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh và đấu tranh ôn hòa cho dân quyền.
- Tư tưởng Phan Chu Trinh có nhiều điểm tương đồng với các trào lưu khai sáng.
"Chủ trương của Phan Chu Trinh": chỉ đường lối, phương pháp cứu nước mà ông đề ra và theo đuổi, đối lập với con đường bạo động.
- Chủ trương của Phan Chu Trinh là cải cách xã hội một cách từ từ thông qua giáo dục và kinh tế.
Biến thể và từ liên quan
Tây Hồ: Hiệu của Phan Chu Trinh, thường được dùng trong văn chương, thơ ca.
- "Tây Hồ thi tập" là một tác phẩm văn học của ông.
Cụ Tây Hồ: Cách gọi tôn kính Phan Chu Trinh.
- Nhân dân Sài Gòn - Gia Định rất mến mộ và kính trọng cụ Tây Hồ.
Từ đồng nghĩa/Gần nghĩa
- Nhà chí sĩ: Người có chí lớn, dấn thân vì đại nghĩa cứu nước cứu dân (dùng để chỉ chung, Phan Chu Trinh là một ví dụ cụ thể).
- Nhà Duy Tân: Người chủ trương cải cách, canh tân đất nước theo mô hình tiến bộ.
Thành ngữ/Cụm từ cố định liên quan
"Dân trí, Dân khí, Dân sinh": Khẩu hiệu và mục tiêu hành động cốt lõi trong tư tưởng cứu nước của Phan Chu Trinh.
- Sự nghiệp của Phan Chu Trinh xoay quanh ba trụ cột: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
"Đạo đức và luân lý Đông Tây": Tên một bài diễn thuyết nổi tiếng của Phan Chu Trinh, phê phán đạo đức phong kiến và đề cao tinh thần dân chủ.
- Bài diễn thuyết "Đạo đức và luân lý Đông Tây" của Phan Chu Trinh gây tiếng vang lớn.
- (1872-1926)
- Chí sĩ, tự Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã. Sinh ngày 09-09-1872 tại Tây Lộc, Tiên Phước, Tam Kỳ, Quảng Nam, mất tại Sài Gòn ngày 24-03-1926. Cha là võ quan nhà Nguyễn, mẹ giỏi Hán học nên ông hay chữ và giỏi võ. Năm 1900, ông thi Hương đỗ Cử nhân, năm 1901, thi Hội đỗ Phó Bảng. Năm 1903, ông được bổ nhiệm Thừa biện bộ Lễ. Năm 1904, ông từ quan, kết giao với nhiều nhà cách mạng trong và ngoài nước, đem học thuyết dân chủ của Tây - A_u truyền bá trong nhân dân, đề xướng phong trào Duy Tân lên cao mà đỉnh điểm là vụ kháng thuế ở Trung kỳ. O_ng bị bắt và bị kết án tử hình vì tội khởi xướng cuộc tranh đấu. Nhờ Hội nhân quyền Pháp can thiệp, ông được cải án đày đi Côn Đảo 3 năm. Năm 1910, ra tù ông bị quản thúc tại Mỹ Tho. Năm 1911, ông sang Pháp tiếp tục viết báo đòi Chính phủ Pháp thay đổi chính sách cai trị, diễn thuyết kêu gọi lòng yêu nước của Việt kiều. Năm 1914, trong thời gian chiến tranh, ông bị vu cáo là gián điệp Đức và bị bắt giam 15 tháng ơ nhà lao La Santé. Ra tù, vẫn ở Pháp, ông quan hệ mật thiết với các ông Phan Văn Trường, Nguyễn A_i Quốc, làm nghề chụp ảnh để mưu sinh. Năm 1922, nhân Khải Định sang Pháp, ông gửi cho ông này Thất điều trần kể tội nhà vua và tố cáo những điều ám muội trong quan hệ với Pháp. Năm 1925, ông trở về nước kêu gọi dân quyền, dân trí, dân sinh, vận động ân xá cho cụ Phan Bội Châu. Ông diễn thuyết ở Sài Gòn về các đề tài: Quân trị và dân trị chủ nghĩa, Đạo đức và luân lý Đông Tây. Ngày 24-03-1926, ông từ trần sau khi ốm nặng, được lập đền thờ tại Đakao, quận 1, TP. HCM. Chủ trương vận động cứu nước của Phan Chu Trinh là mở mang dân trí, phát triển dân sinh, thực hiện dân chủ. Suốt đời ông đấu tranh vì sự nghiệp cứu nước. Các tác phẩm của ông: "Thư gửi Chính phủ Đông dương, Tinh quốc Hồn cả I, II, Thư gửi Hội nhân quyền, Tây Hồ và Santé thi tập, Giai nhân kỳ ngộ